Trạng nguyên đầu tiên của nước ta và việc giữ vững chủ quyền lãnh thổ

Update Jan 11, 2018 11:00 AM

Suốt chiều dài hàng ngàn năm lịch sử dân tộc, chúng ta luôn phải đối mặt với vấn đề chủ quyền dân tộc. Đã có không biết bao nhiêu cuộc khởi nghĩa để giành lại chủ quyền đất nước được diễn ra. Cũng không thể không kể đến chính sách ngoại giao mềm mỏng nhưng cương quyết của nước ta để giữ vững những mảnh đất ở vùng biên giới. Trong đó, có một vị đại khoa đã có cách làm vô cùng sáng suốt để giữ vững lãnh thổ nước ta.

Trong gần 9 thế kỷ hình thành và phát triển của lịch sử khoa cử Việt Nam (1075 - 1918), triều Lý là triều đại đầu tiên thực hiện chọn hiền tài bằng khoa cử. Năm 1075, vua Lý Nhân Tông bắt đầu cho tuyển Minh kinh bác học (tức là những người học rộng, thông hiểu kinh thuật) và khoa thi Nho học tam trường, khai mở cho lịch sử khoa cử Việt Nam.

Theo sách cổ Danh tiết lục: Lê Văn Thịnh người làng Đông Cứu, huyện Gia Định (nay thuộc Gia Bình, Bắc Ninh), tính ham học. Bấy giờ (đầu triều Lý) chưa có khoa cử, dù ai thông minh, sáng sủa đến đâu cũng phải do đường Phật giáo mà được lựa chọn đề bạt; riêng có Lê Văn Thịnh chăm đọc sách. Khoa thi năm 1075, lấy đỗ hơn 10 người, Văn Thịnh là người đỗ đầu. Ông là người khai khoa cho nền giáo dục khoa cử Nho học Việt Nam và cũng là mở đầu chính thức cho việc lựa chọn người đỗ Đại khoa vào tham gia chính quyền phong kiến.

Trạng nguyên Lê Văn Thịnh. Ảnh: news.zing.vn

Sau khi đỗ đại khoa, Lê Văn Thịnh “được lựa vào hầu vua học tập”. Đây là một trọng trách và cũng là một đặc ân mà vương triều Lý dành cho một trí thức Nho học vừa trúng tuyển, đồng thời, cũng là trường hợp hiếm thấy trong lịch sử trung đại Việt Nam.

Công việc truyền đạt kiến thức cho đương kim hoàng đế, thường thuộc về chức trách của các vị đại thần nguyên lão, đạo cao đức trọng, có kiến thức uyên bác, được sự tín nhiệm cao của triều thần và kinh nghiệm sâu sắc trên chính trường. Lựa chọn Lê Văn Thịnh là một người giỏi cả Phật giáo lẫn Nho giáo, nhưng còn trẻ tuổi vào đảm đương “hầu vua học” là bước đột phá trong chính sách trọng dụng người tài của vương triều Lý.

Như vậy, triều Lý cho tổ chức khoa thi đầu tiên không chỉ để chọn lấy những người tài có kiến thức, nhằm bổ sung, tăng cường cho đội ngũ quan chức của triều đình, mà còn cần tuyển lấy cả những người có trình độ học vấn cao về Nho học, để giúp vua nâng cao học vấn trong việc “trị quốc, bình thiên hạ”. Thông qua việc mở khoa thi Nho học, triều Lý hy vọng đạt được mục đích “nhất tiễn song điêu” (một phát tên, bắn được hai con chim).

Trong thời gian thường xuyên được hầu cận nhà vua học tập, đại khoa Lê Văn Thịnh đã góp phần rất quan trọng vào việc truyền bá tư tưởng Nho giáo tới tầng lớp quý tộc nhà Lý - những người đứng đầu quốc gia Đại Việt ở thế kỷ XI-XIII, vốn rất sùng mộ Phật giáo.

Ngoài việc giảng giải kiến thức Nho học cho nhà vua, Lê Văn Thịnh còn đảm nhiệm nhiều chức vụ trọng yếu khác trên lĩnh vực quân sự, ngoại giao của triều Lý. Những năm 70 của thế kỷ XI là thời kỳ căng thẳng, đụng độ quyết liệt giữa triều Lý và triều Tống.

Đòn đánh phủ đầu của quân dân Đại Việt

Sau khi thống nhất đất nước, nhà Tống phải đối mặt trước sự xâm lược của nhà Liêu và Tây Hạ ở phương bắc. Để hòa hoãn, nhà Tống buộc phải cống nạp nhiều của cải và cắt một phần lãnh thổ cho những nước này. Mong muốn bù đắp lại những gì đã mất, nhà Tống quyết định Nam tiến đánh chiếm Đại Việt.

Bàn bạc hồi lâu, Lý Thường Kiệt nhận thấy, quân Tống trước mắt mới tập trung quân lương tại Ung Châu sau đó mới dồn quân tiến lên phía trước tấn công Đại Việt.

"Nếu như quân ta sớm triệt phá địch ngay từ hậu phương, sẽ khiến chúng mất đi nguồn nuôi dưỡng sức mạnh của mình. Sau đó, nếu địch có dồn quân đánh xuống nước ta thì sẽ chẳng thể trụ được lâu vì đã mất đi căn cứ hậu cần."

Lý Thường Kiệt cho rằng chủ động mang quân phá địch sẽ khiến chúng mất đi nguồn sinh lực. Ảnh: soha.vn

Đúng như Lý Thường Kiệt tính toán. Sau khi đem 10 vạn đại quân đánh thẳng vào Liêm Châu, Khâm Châu và đặc biệt là hạ được căn cứ quan trọng của địch - Ung Châu. Nhà Tống vô cùng tức giận, ngay lập tức dồn 10 vạn quân chiến đấu, 20 vạn phu dịch và 1 vạn ngựa, quân đánh xuống Đại Việt với phương châm đánh nhanh thắng nhanh.

Trước thế giặc mạnh nhưng bằng bản lĩnh và sự mưu lược của mình Lý Thường Kiệt chỉ mất 10 ngày từ ngày 8/1/1077 tại trận đánh đầu tiên ở ải Nam Quan (Lạng Sơn) cho đến ngày 18/1/1077 trong trận cuối cùng tại sông Như Nguyệt, khiến quân Tống đại bại, không giành nổi một chiến thắng nhỏ nào trong toàn bộ cuộc chiến với Đại Việt.

Chiếm đất

Về phía triều đình nhà Lý, dù giành được chiến thắng vang dội, đập tan âm mưu của kẻ thù, nhưng với tinh thần hòa hiếu “đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo”, năm 1078, vua Lý Nhân Tông sai Đào Tông Nguyên dẫn đầu đoàn sứ bộ sang Trung Quốc để kết giao tình hòa hiếu, đề nghị trả lại những vùng đất họ chiếm giữ bất hợp pháp của nước ta.

Sau chuyến đi sứ này, đến tháng 6/1083, hội nghị ngoại giao bàn định cương giới giữa Đại Việt và nhà Tống diễn ra tại trại Vĩnh Bình. Đào Tông Nguyên yêu cầu sứ giả nhà Tống là Thành Trạc phải trả lại hai châu Vật Dương, Vật Ác cho Đại Việt, nhưng họ không đồng ý.

Giang sơn thu về một mối nhờ ba tấc lưỡi của trạng nguyên

Không thể đòi lại đất, Đào Tông Nguyên tỏ ra rất tức giận và kiên quyết trước sứ thần nhà Tống, sau đó bỏ về. Trước tình thế này, vào năm Giáp Tý (1084), vua Lý Nhân Tông và Nguyên Phi Ỷ Lan đã cử Lê Văn Thịnh với cương vị là Binh bộ Thị lang sang Quảng Tây nước Tống, để hội bàn với Tuần kiểm ty nhà Tống là Thành Trác giải quyết việc tranh chấp đất đai vùng biên.

Tháng 6 năm Giáp Tý, Lê Văn Thịnh sang nhà Tống đòi lại những đất ấy. Cuộc họp diễn ra vô cùng căng thẳng, nhiều lập luận vô cùng đanh thép được đưa ra.

Theo sách "Kể chuyện sứ thần Việt Nam", trên bàn đàm phán, Lê Văn Thịnh đã suy nghĩ rất nhiều về công việc nặng nề mà triều đình đã giao cho ông. Với quyết tâm đòi lại đất đai của tổ tiên để lại, Lê Văn Thịnh đã đanh thép khẳng định họ chiếm giữ đất bất hợp pháp của ta: “Đời Gia Hữu, Nùng Trí Hội nước tôi đã phản bội triều đình, đưa động Vật Ác nộp cho vua Tống, vùng đất này được đổi thành châu Thuận An. Sau đó lại lấy động Vật Dương nộp và được đổi tên thành châu Quy Hóa. Vậy đất Quy Hóa và Thuận An chính là đất của Giao Chỉ, xin các ngài hãy tâu về triều đình, mở lòng khoan dung mà giao trả đất cho vua chúng tôi”.

Trên thực tế, vị Chánh sứ của Đại Việt cũng rất kiên quyết và dứt khoát trong khi tranh luận đòi đất. Thư tịch triều Tống đã chép câu trả lời thể hiện quan điểm cứng rắn của ông: “Đất thì có chủ, các viên coi giữ mang nộp, thì đất ấy thành vật ăn trộm của chủ. Sự chủ giao cho mà tự lấy trộm đã không tha thứ được, mà trộm của hay tàng trữ thì pháp luật cũng không cho phép. Huống chi nay, chúng lại mang đất trộm dâng, để làm nhơ bẩn sổ sách của nhà vua (triều Tống)”. Cho nên, Tống Thần Tông đành phải hạ chiếu trả lại cho ta 6 huyện Bảo Lạc và 6 động Túc Tang.

Nhằm mục đích quan trọng là giành lại lãnh thổ đã bị xâm chiếm cho đất nước, cho nên Lê Văn Thịnh thực hiện phương châm ngoại giao hết sức mềm dẻo, từ tốn theo cách “chỉ lấy lý lẽ mà giải thích”. Thái độ của Chánh sứ Lê Văn Thịnh khiến vua Tống phải nể phục và khen ông là người “biết cung kính, biết lẽ phải”.

Trong chuyến ngoại giao năm 1084, không chỉ hoàn thành xuất sắc trọng trách của triều đình giao phó: Giành lại nhiều vùng đất biên cương phía Bắc, mà bản thân Lê Văn Thịnh còn được vua Tống ban phong chức Long đồ các Đãi chế. Việc phong chức cho một vị Chánh sứ xuất thân từ khoa bảng như Lê Văn Thịnh, càng chứng tỏ rõ sự công nhận và nể phục của triều đình phong kiến Trung Hoa đối với trí thức Nho học Việt Nam thời Lý. Ông được triều đình ban thưởng lớn, sau này ông còn nắm giữ vị trí thái sư, là người đứng đầu triều đình.

Tượng Thái sư Lê Văn Thịnh. Ảnh: news.zing.vn

Trong công cuộc giữ vững chủ quyền lãnh thổ, bảo đảm an ninh quốc gia trên vùng biên cương phía Bắc của triều Lý vào thế kỷ XI-XIII, chúng ta không thể không nhắc đến những cống hiến xuất sắc của Binh bộ Thị lang Lê Văn Thịnh - vị đại khoa đầu tiên của Việt Nam trong lần xuất ngoại đàm phán năm 1084.

Năm 1095, ông bị vu oan hóa hổ giết vua, bị bắt đi đày. Sau này, ông được tha và mất trên đường trở về quê.

 

Author: Quang Minh



Related news
You may be interested